Thứ Sáu, 17 tháng 5, 2013

THUYẾT ÂM DƯƠNG - NGŨ HÀNH TRONG "HẢI THƯỢNG Y TÔNG TÂM LĨNH"

    
Kể từ sau khi xuất hiện tác phẩm Hoàng đế nội kinh tố vấn và với ảnh hưởng mạnh mẽ của tác phẩm này, thuyết âm dương - ngũ hành ngày càng được các nhà tư tưởng phát triển và vận dụng vào nhiều lĩnh vực khác nhau, trong đó có lĩnh vực y học ở Trung Quốc và một số nước phương Đông khác. Thuyết âm dương - Ngũ hành sau khi vào Việt Nam đã được các nhà tư tưởng Việt Nam tích cực tiếp nhận và vận dụng hết sức sáng tạo trong thực tiễn. Một trong những tấm gương tiêu biểu của sự vận dụng sáng tạo thuyết âm dương - ngũ hành vào việc phát triển nền y học nước ta là đại danh y, nhà lý luận y học Hải Thượng Lãn Ông Lê Hữu Trác, với tác phẩm y học đồ sộ Hải Thượng Y tông tâm lĩnh, gồm 28 tập, 66 quyển.

Y học cổ truyền Việt Nam được hình thành ngay từ buổi đầu dựng nước và ngày càng phát triển trong cuộc đấu tranh chống bệnh tật, bảo vệ và nâng cao sức khoẻ nhân dân. Cũng như y học cổ truyền Trung Quốc, cơ sở để xây dựng lý luận y học cổ truyền Việt Nam không tách rời học thuyết âm dương - ngũ hành. Thuyết này được du nhập vào Việt Nam từ rất sớm và được nhiều nhà tư tưởng vận dụng để triển khai các vấn đề y học cổ truyền, cả trên phương diện lý luận lẫn thực tiễn lâm sàng. Song sự vận dụng đó thường mang tính phiến diện, hoặc không để lại trước tác cho đời sau, hoặc có để lại nhưng đã thất truyền. Chỉ đến thế kỷ XVIII, khi bộ Hải Thượng Y tông tâm lĩnh của Lê Hữu Trác xuất hiện, thuyết âm dương - Ngũ hành mới thực sự được đề cập một cách sâu sắc, toàn diện để xem xét mọi vấn đề của y học đương thời với tư cách là một cơ sở triết học quan trọng của y học. Đây là tác phẩm y học đầu tiên trong lịch sử y học Việt Nam đã tạo ra sự gắn bó chặt chẽ giữa việc xây dựng và phát triển tri thức y học với thế giới quan và phương pháp luận triết học. Trong tác phẩm này, Lê Hữu Trác đã dành một phần quan trọng để trình bày sự nhận thức, cũng như những quan điểm riêng của mình về thuyết âm dương - ngũ hàng. Thuyết âm dương - Ngũ hành là một học thuyết có tầm quan trọng đặc biệt trong việc đặt cơ sở xây dựng lý luận và thực hành lâm sàng đối với y học cổ truyền phương Đông. Thuyết này đã được ông đề cập trong hầu hết các tác tác phẩm y học của mình, trong đó chủ yếu tập trung vào các quyển: Khôn hoá thái chân, Nội kinh yếu chỉ, Đạo lưu dư vận, Y gia quan miện, Y hải cầu nguyên, Huyền tẫn phát vi, Vận khí bí điền… Đặc biệt, trong cuốn Y gia quan niệm, ông dành hẳn một mục riêng (âm dương - ngũ hành) để bàn sâu hơn về học thuyết này. Điều đó cho thấy, ông coi trọng vai trò của thuyết âm dương - ngũ hành đối với việc nhận thức và triển khai hệ thống lý luận y học như thế nào. Ông nói: "Học Kinh Dịch đã rồi mới nói tới chuyện làm thuốc nhưng nói học Kinh Dịch không phải là học những quẻ, những hào, những từ của Kinh Dịch mà cần học để biết quy luật biến hoá của âm dương, quy luật sinh khắc của ngũ hành tựa như chiếc vòng không đầu không cuối. Vì bệnh tật phát sinh ra đều do sự thịnh suy của âm dương và do sự thắng phục của Ngũ hành. Nghề làm thuốc đâu có thể vượt ra ngoài nguyên lý của âm dương - Ngũ hành mà cứu chữa được những bệnh tật nguy nan”.

Kế thừa những tư tưởng hợp lý của người xưa, đặc biệt là tư tưởng âm dương - ngũ hành trong Kinh Dịch và Nội kinh, ông đã nêu lên quá trình phát triển tự nhiên của thế giới vật chất. Với tư cách là nhà lý luận y học kiêm lâm sàng học, ông đã chứng minh nguồn gốc tự nhiên của con người bằng việc giải thích và kiểm nghiệm các quá trình bệnh sinh, bệnh lý của con người, từ chức năng sinh lý đến nguyên nhân bệnh sinh. Từ đó, ông nêu ra phương pháp chẩn đoán, phòng và trị bệnh cho con người.

Theo ông, tuy không nhìn thấy được âm dương, nhưng chúng ta lại hiểu được nó thông qua các biểu hiện hình tượng của nó. Chẳng hạn, mặt trời là dương, mặt trăng là âm, ban ngày là dương, ban đêm là âm, ánh sáng là dương, bóng tôi là âm. Ông nói: nóng rét là đức năng của âm dương, Thuỷ hoả là dấu hiệu của âm dương". Âm dương tuy đối lập song tồn tại không tách rời nhau. Trong âm có dương, trong dương có âm, "âm ở trong để trấn thủ cho dương, dương ở ngoài để bảo vệ cho âm", "âm cực sinh dương, dương cực sinh âm"...

Khi bàn về chức năng sinh lý của con người, Lãn ông khẳng định: Tất cả các bộ phận trong cơ thể con người đều không tách rời khỏi hai mặt âm dương. Từ các bộ phận trong cơ thể con người đến chức năng sinh lý là một khối thống nhất của các yếu tố âm dương - ngũ hành. Theo ông, cơ thể bình thường là cơ thể có sự hài hoà giữa hai mặt âm dương, đồng thời tuân theo quy luật "sinh khắc, chế hoá của ngũ hành". Một khi thế quân bình của âm dương bị phá vỡ, sự sinh khắc, chế hoá của Ngũ hành bất bình thường thì cơ thể sẽ nảy sinh các hiện tượng “cang hại thừa chế” (do Ngũ hành "thái quá” hay "bất cập").

Trong sự đa dạng của các mối liên hệ trong cơ thể, Lãn ông đặc biệt nhấn mạnh đến mối liên hệ giữa yếu tố thể xác và yếu tố tinh thần. Ông dứt khoát đứng trên lập trường duy vật khi khẳng định: Cái thể xác là cơ sở để sinh ra cái tinh thần, "cái thất tình (tức cái tinh thần) tuy là loại vô hình nhưng cũng do cái hữu hình (thể xác) sinh ra". Song, tinh thần có ảnh hưởng ngược trở lại đối với thể xác - "mừng quá thì tổn thương tâm, giận quá thì thổn thương can". Vì vậy, cần phải đùng phương pháp "bổ thần" nhằm giữ cho tư tưởng được ổn định, yên tĩnh, tinh khí được cố thủ ở trong thì hư tà không thể làm hại được.

Theo Lãn ông, cơ thể con người không chỉ là một bộ phận của giới tự nhiên, mà bản thân nó cũng là một khối thống nhất. Khi mới sinh ra, con người vốn không có bệnh tật, nhưng trong quá trình tồn tại và sinh hoạt, các mặt âm dương, khí huyết trong cơ thể con người trở nên "thiên lệch" thì bệnh tật bắt đầu nảy sinh. Xuất phất từ cách nhìn đó, Lãn ông đã xây dựng lý thuyết điều trị chủ về Thuỷ hoả rất nổi tiếng dựa trên những nguyên tắc căn bản được thể hiện trong Kinh Dịch. Theo ông, Thuỷ hoả là gốc sinh ra con người, Thuỷ hoả phải cân bằng mà không nên chênh lệch, nên hoà hợp mà không nên phân chia. Đó là nguyên tắc tương giao tương hợp giữa Thủy và Hoả trong giới tự nhiên mà Kinh Dịch và Nội kinh đều đã đề cập đến. Trong quan niệm về Thuỷ hoả, ông cho rằng, hai quả thận trong cơ thể con người ta đã hợp lại thành một "Đồ thái cực”. Hai quả thận đều thuộc hành Thủy, bên trái là âm thủy, bên phải là dương thủy, giữa là "Đồ thái cực", là "mệnh môn", là cửa ngõ của sinh mệnh thuộc Hoả (nằm trong tạng thủy). Ông nói: "Người không có hoả ấy thì không thể sống được".

Dựa trên quan niệm Thuỷ hoả hay quan niệm tâm thận như trên, ông đã đề ra một đường lối "trị bệnh đã lâu, phải giữ ngay phương Bắc". Ông sử dụng hai bài bổ thận trong cổ phương là “Lục vị" và "Bát vị" để điều chỉnh âm dương (Thuỷ hoả). Nhờ đó, đã thu nhiều kết quả cho những bệnh hiểm nghèo.

Âm dương, Thuỷ hoả là những khái niệm rất trọng yếu trong lý luật y học cổ truyền. Trong Kinh Dịch và Nội kinh quan niệm về âm dương có cách diễn đạt khác nhau, song nội dung lại giống nhau ở chỗ, âm dương là những phạm trù triết học căn bản, dùng để khái quát các sự vật và hiện tượng có xu hướng, tính chất và những thuộc tính đối lập, mâu thuẫn nhưng thống nhất với nhau. Với ý nghĩa đó, "âm dương có tên nhưng không có hình". Trong Kinh Dịch, các tác giả đã dùng sự đối lập, thống nhất của hai thuộc tính được gọi là âm và dương để nói lên quy luật và nguyên nhân cơ bản trong biến hoá của vạn vật. Trong lịch sử triết học Trung Quốc, các phái Nho gia, Đạo gia ở thời kỳ cổ đại và phái Lý học gia sau này đều có cách hiểu về âm dương như thế. Trong Nội kinh, quan niệm về âm dương có thể khái quát thành hai phương diện: Một là, âm dương đại diện cho hai thuộc tính đối lập, xác định như ánh sáng và bóng tối, bên trong và bên ngoài, cái nóng và cái lạnh... Hai là, âm dương đại diện cho hai trạng thái hay hai loại vận động đối lập như "đi" là dương, "dừng" là âm, "động" là dương, "tĩnh" là âm... Sau này, Lê Hữu Trác cũng khẳng định: "âm dương là một danh từ trừu tượng", vũ trụ vận động từ chỗ vô cực (mù mịt, hỗn độn) đến thái cực rồi sinh ra âm dương. Âm dương không những dùng để chỉ một sự vật nhất định, mà nó có trong tất cả vạn vật. Nếu như âm dương là phạm trù trừu tượng thì Thuỷ hoả lại là phạm trù cụ thể. Vì thế, quan niệm về âm dương luôn gắn với quan niệm về Thuỷ hoả. Thuỷ hoả là đấu hiệu của âm dương, là thực thể của âm dương. Kế thừa các quan điểm, hợp lý về mối quan hệ giữa âm dương, Thuỷ hoả được 'thể hiện trong Kinh Dịch, đặc biệt là trong Nội kinh và với phương pháp tư duy độc lập, sáng tạo. Lê Hữu Trác đã làm phong phú thêm lý thuyết Thuỷ hoả của mình trong thực tiễn y học Việt Nam. Theo ông, vì tính của hoả thời bốc lên nên phải khiến cho nó đi xuống, tính của thủy thấm xuống nên phải khiến cho nó đi lên. Thủy lên, hoả xuống như thế gọi là giao nhau, tức là Thuỷ hoả "ký tế”. Thuỷ hoả "ký tế” thì âm dương bình hoà, Thuỷ hoả tách rời nhau (vị tế) thì âm dương chia lìa, sinh mạng người có nguy cơ bị đe doạ. Người thầy thuốc giỏi là phải biết được vị trí và quy luật lên xuống của Thuỷ hoả mà điều chỉnh âm dương cho phù hợp. Nếu người chân âm thịnh thì phải bổ chân dương, khí âm nhờ đó mà theo khí dương bay lên. Lãn ông khuyên, bổ âm để củng cố chân thủy, nên dùng bài Lục vị, còn để củng cố chân hoả của thận thì dùng Bát vị.

Có thể nói, quan niệm của Lê Hữu Trác về Thuỷ hoả với phương hướng điều trị lấy việc bồi bổ cơ thể làm chính mà trước hết là bổ thận, đã trở thành luồng tư tưởng quán xuyến trong hầu hết các chương mục của bộ Hải thượng Y tông tâm lĩnh. Chính trên cơ sở khoa học đó mà ông có nhiều sáng kiến và chế tạo ra nhiều phương thuốc độc đáo, phù hợp với thực tiễn lâm sàng ở Việt Nam, như phương: Bổ thổ cố trung, Phù âm liễm dương, Bổ tỳ âm, các bài giải biểu...

Thành công đó, là một minh chứng cho thái độ nghiêm túc trong nghiên cứu khoa học cùng với phong cách tư duy độc lập, sáng tạo của Lê Hữu Trác.

Qua tác phẩm y học của ông, lý thuyết âm dương - ngũ hành đã được vận dụng và phát triển thêm một bước mới. Nó khẳng định vai trò không thể thiếu được của thuyết này trong việc vận dụng và phát triển y học cổ truyền phương Đông.

Theo www.tuhai.com.vn

SỰ HÌNH THÀNH VÀ PHÁT TRIỂN THUYẾT NGŨ HÀNH

                         
Nếu như sự vận động không ngừng của vũ trụ đã hướng con người tới những nhận thức sơ khai trong việc cắt nghĩa quá trình phát sinh của vũ trụ và hình thành thuyết âm dương, thì ý tưởng tìm hiểu bản thể thế giới, bản thể các hiện tượng trong vũ trụ đã giúp cho họ hình thành thuyết ngũ hành. Thuyết ngũ hành có thể hiểu đó là thuyết biểu thị quy luật vận động của thế giới, của vũ trụ, nó cụ thể hóa và bổ sung cho thuyết âm dương thêm hoàn bị.

Sự đề cập đầu tiên về ngũ hành được thấy trong tác phẩm "Kinh thư" ở chương "Hồng phạm" qua lời "Cổ Tử cáo với Vua Vũ nhà Chu". Trong Cửu trù "Hồng Phạm" thì ngũ hành về mặt tự nhiên được hình thành bằng những tên của năm loại vật chất cụ thể: Kim, Mộc, Thủy, Hỏa, Thổ, và kèm theo tính chất của các loại vật chất đó, năm loại vật chất này không thể thiếu được đối với đời sống con người. Đứng về mặt thiên thời, "Hồng phạm" cho rằng có cái gọi là ngữ "kỷ" (một là năm, hai là tháng, ba là ngày, bốn là các vì sao, năm là lịch số). Về hiện tượng xã hội và hiện tượng tinh thần của con người, "Hồng phạm" đề xuất "ngũ sự" và "ngũ phúc". Ngũ sự như: một là tướng mạo, hai là lời nói, ba là trông, bốn là nghe, năm là suy nghĩ. Ngũ phúc như: một là thọ, hai là phúc, ba là thông minh, bốn là hiếu đức, năm là khảo trung mệnh. Qua đó nhận thấy "Hồng phạm" dùng ngũ hành để liên hệ hiện tượng tự nhiên với hiện tượng xã hội, nhằm thuyết minh thế giới là một chỉnh thể thống nhất, có trật tự. Trong tư tưởng đó có chứa đựng nhân tố duy vật, khẳng định ngũ hành là cơ sở của thế giới, tính chất của sự vật đều thể hiện tính năng của năm loại vật chất: Thủy, Hỏa, Kim, Mộc, Thổ. "Hồng phạm" đã ảnh hưởng rất lớn đến triết học của thời đại phong kiến sau này. Các nhà duy vật và duy tâm từ những lập trường và giác độ khác nhau mà rút ra từ "Hồng phạm" những tư tưởng phù hợp với mình. Chính "Hồng phạm" và "Kinh dịch" đã tạo nên cái nền của vu trụ luận.

Trong thiên "Thập nhi kỉ" sách “Lã Thị Xuân Thu" phần nói về mối quan hệ giữa ngũ hành với giới tự nhiên có rõ nét hơn. "Nguyệt lệnh" dùng thuộc tính vốn có của năm loại vật chất và tác dụng (tương sinh) lẫn nhau giữa chúng để thuyết minh cho sự biến hóa của thời tiết bốn mùa. Sự thuyết minh này tuy có tính chất khiên cưỡng nhưng là một quan điểm duy vật. Còn về mặt xã hội thì "Nguyệt lệnh" cũng giống như "Hồng phạm", ý đồ chính trị đã được nâng lên đến mức thể chế hành động của ông vua theo ngũ hành. Người ta lấy sự chặt chẽ của trật tự ngũ hành và quan hệ sinh khắc của nó để làm mực thước cai trị xã hội.

Trâu Diễn là một lãnh tụ quan trọng của các nhà ngũ hành thời Chiến quốc. Khi đưa thuyết ngũ hành vào lịch sử ông đã dùng trật tự của ngũ hành để gán ghép cho trật tự của các triều đại vua. Ý tưởng của ông đã thành một nếp khẳng định trong ý thức hệ của giai cấp phong kiến, đến nỗi gây ra cuộc tranh luận về việc chọn tên "hành" cho triều đại nhà Hán (một triều đại mà học thuyết âm dương ngũ hành rất thịnh và được đem ứng dựng vào tất cả các công việc hàng ngày, vào mọi mặt của đời sống xã hội). Lý luận của Trâu Diễn được các danh gia đương thời hấp thụ và quán triệt vào các lĩnh vực của hình thái ý thức xã hội.

Học thuyết ngũ hành của Đổng Trọng Thư một nho si uyên bác đời Hán có nhiều điểm khác với tư tưởng của Cơ Tử vả Trâu Diễn. Đi sâu vào hình thái của quy luật ngũ hành, Đổng Trọng Thư cho rằng: trật tự của ngũ hành bắt đầu từ Mộc qua Hỏa, Thổ, Kim, Thủy. Khi phân tích quy luật sinh khắc của ngũ hành, ông đã dựa hẳn vào sự diễn biến của khí hậu bốn mùa. Theo ông, sở dĩ có sự vận chuyển bốn mùa là do khí Âm, Dương biến đổi.

Trong "Kinh Dịch", khi nói về ngũ hành, các nhà toán học và dịch học đã lý giải nó trên hai hình Hà đồ và Lạc thư. Theo "Kinh Dịch” thì trời lấy số 1 mà sinh hành Thủy, đất lấy số 6 mà làm cho thành, đất lấy số 2 mà sinh hành Hỏa, trời lấy số 7 mà làm cho thành, trời lấy số 3 mà sinh hành Mộc, đất lấy số 8 mà làm cho thành, đất lấy số 4 mà sinh hành Kim, trời lấy số 9 mà làm cho thành.

Quan điểm ngũ hành và sự ứng dụng của nó đối với đời sống con người được bàn nhiều nhất trong tác phẩm "Hoàng đế Nội kinh". Những lời bản trong bộ sách này đã khẳng định học thuyết ngũ hành có vai trò hết sức quan trọng đối với y học cổ truyền Trung Quốc.

Mối quan hệ giữa các hành trong ngũ hành được thực hiện qua các quy luật của ngũ hành.

Ngũ hành tương sinh: sinh có nghĩa là tương tác, nuôi dưỡng, giúp đỡ. Giữa các hành trong ngũ hành đều có quan hệ nuôi dưỡng lẫn nhau, giúp đỡ lẫn nhau cùng phát sinh và phát triển. Đó gọi là ngũ hành tương sinh. Quan hệ tương sinh của ngũ hành là Mộc sinh Hỏa, Hỏa sinh Thổ, Thổ sinh Kim, kKm sinh Tthủy, Thủy sinh Mộc.

Ngoài quy luật tương sinh còn có quy luật tương khắc. "Khắc" có nghĩa là chế ước, ngăn trở, loại trừ. Thứ tự của ngũ hành tương khắc là: Mộc khắc Thổ, Thổ khắc Thủy, Thủy khắc Hỏa, Hoả khắc Kim, Kim khắc Mộc.

Trong ngũ hành tương sinh và tương khắc, trong tương khắc cũng ngụ có tương sinh. Đó là quy luật chung về sự vận động, biến hóa của giới tự nhiên. Nếu chỉ có tương sinh mà không có tương khắc thì không thể giữ gìn được thăng bằng, có tương khắc mà không có tương sinh thì vạn vạt không thể có sự sinh hóa. Vi vậy, tương sinh, tương khắc là hai điều kiện không thể thiểu được để duy trì thăng bằng tương đối của hết thảy mọi sự vật.

Quy luật tương sinh tương khắc là chỉ vào quan hệ của ngũ hành dưới trạng thái bình thường. Còn nếu giữa ngũ hành với nhau mà sinh ra thiên thịnh hoặc thiên suy, không thể giữ gìn được thăng bằng, cân đối mà xảy ra trạng thái trái thường thì gọi là "tương thừa", "tương vũ".

Hai học thuyết âm dương ngũ hành được hết hợp làm một từ rất sớm. Nhân vật nổi tiếng nhất trong việc kết hợp hai học thuyết trên là Trâu Diễn. Ông đã dùng hệ thống lý luận âm dương ngũ hành "tương khắc, tương sinh" để giải thích mọi vật trong trời đất và giữa nhân gian. Trâu Diễn là người đầu tiên vận dụng thuyết âm dương ngũ hành vào giải thích các hiện tượng xã hội nói chung.

Cuối thời Chiến Quốc, đầu thời Tần Hán có hai xu hướng khác nhau bàn về sự kết hợp giữa thuyết âm dương và thuyết ngũ hành.

Hướng thứ nhất: Đổng Trọng Thư kết hợp âm dương ngũ hành để giải thích các hiện tượng tự nhiên, xã hội, con người. Theo ông, giữa con người và tự nhiên có một mối quan hệ thần bí. Khi giải đáp về khởi nguồn, kết cấu của vũ trụ, ông đã sáng tạo ra một vị thần có nhân cách đứng trên cả vũ trụ, có ý thức và đạo đức đó là trời. Theo ông, trong vũ trụ con người là sự sáng tạo đặc biệt vượt lên vạn vật .Tương hợp với trời, trời có bốn mùa, con người có tứ chi. Từ thuyết "thiên nhân hợp nhất", ông đã dẫn dắt ra mệnh đề "thiên nhân cảm ứng", cho rằng thiên tai là do trời cảnh cáo loài người. Ông còn lợi dụng quan điểm định mệnh trong học thuyết âm dương ngũ hành để nói rằng "dương thiện, âm ác". Tuy Đổng Trọng Thư đưa ra phạm trù "khí", "âm dương", "ngũ hành" để giải thích quy luật biến hóa của thế giới, song ông lại cho rằng những thứ khí ấy bi ý chí của thượng đế chi phối. Triết học của ông có màu sắc mục đích luận rõ nét. Bên cạnh đó ông còn nói trời không đổi, đạo cũng không đổi để phủ nhận sự phát triển và biến hóa của thế giới khách quan.

Hướng thứ hai: Tác phẩm "Hoàng Đế Nội kinh" đã sử dụng triết học âm dương ngũ hành làm hệ thống lý luận của y học. Tác phẩm này đã dùng học thuyết trên để giải thích mối quan hệ giữa con người với trời đất: coi con người và hoàn cảnh là một khối thống nhất, con người chẳng qua là cơ năng của trời và đất thu nhỏ lại, con người không thể tách rời giới tự nhiên mà sinh sống được, con người với giới tự nhiên là tương ứng. Tự nhiên có âm dương ngũ hành thì con người có "thủy hỏa" ngũ tạng. Nội kinh viết: "Âm Dương là quy luật của trời đất, tuy không thấy được nhưng chúng ta có thể hiểu được nó thông qua sự biểu hiện của thủy hỏa, khí huyết, trong đó hỏa khí thuộc Dương, thủy huyết thuộc Âm". Tác phẩm này còn dùng các quy luật âm dương ngũ hành để giải thích mối quan hệ giữa các phủ tạng trong cơ thể. Tác phẩm đã vận dụng sự kết hợp giữa học thuyết âm dương với học thuyết ngũ hãnh để giải thích các hiện tượng tự nhiên cũng như các biểu hiện trong cơ thể con người và mối quan hệ giữa con người với tự nhiên. Đây là một quan điểm hoàn chỉnh và là một điển hình của phép biện chứng thô sơ.

Học thuyết âm dương đã nói rõ sự vật, hiện tượng tồn tại trong thế giới khách quan với hai mặt đối lập thống nhất đó là Âm Dương. Âm Dương là quy luật chung của vũ trụ, là kỉ cương của vạn vật, là khởi đầu của sự sinh trưởng, biến hóa. Nhưng nó sẽ gặp khó khăn khi lý giải sự biến hóa, phức tạp của vật chất. Khi đó nó phải dùng thuyết ngũ hành để giải thích. Vì vậy có kết hợp học thuyết âm dương với học thuyết ngũ hành mới có thể giải thích mọi hiện tượng tự nhiên và xã hội một cách hợp lý.

Hai học thuyết này luôn luôn phối hợp với nhau, hỗ trợ cho nhau, không thể tách rời. Muốn nhìn nhận con người một cách chỉnh thể, đòi hỏi phải vận dụng kết hợp cả hai học thuyết âm dương và ngũ hành. Vì học thuyết âm dương mang tính tổng hợp có thể nói lên được tính đối lập thống nhất, tính thiên lệch và cân bằng của các bộ phận trong cơ thể con người, còn học thuyết ngũ hành nói lên mối quan hệ phức tạp, nhiều vẻ giữa các yếu tố, các bộ phận của cơ thể con người và giữa con người với tự nhiên. Có thể khẳng định, trên cơ bản, âm dương ngũ hành là một khâu hoàn chỉnh, giữa âm dương và ngũ hành có mối quan hệ không thể tách rời.

Âm dương ngũ hành là những phạm trù cơ bản trong tư tưởng của người Trung Quốc cổ đại. Đó cũng là những khái niệm trừu tượng đầu tiên của người xưa để giải thích sự sinh thành, biến hóa của vũ trụ. Đến thời Chiến quốc, học thuyết âm dương ngũ hành đã phát triển đến một trình độ khá cao và trở thành phổ biến trong các lĩnh vực khoa học tự nhiên. Song học thuyết âm dương ngũ hành cũng như các học thuyết triết học Trung Quốc cổ đại là thế giới quan của người Trung Hoa ở vào một thời kỳ lịch sử đã lùi vào dĩ vãng, lúc đó lực lượng sản xuất và khoa học còn ở trình độ thấp, cho nên không khỏi có những hạn chế do những điều kiện lịch sử đương thời quy định. Đặc biệt, sự phát triển của nó chưa gắn với những thành tựu của khoa học tự nhiên cận hiện đại, nó còn mang dấu ấn của tính trực giác và tính kinh nghiệm. Song học thuyết đó đã trang bị cho con người tư tưởng duy vật khá sâu sắc và độc đáo nên đã trở thành lý luận cho một số ngành khoa học cụ thể.

Theo www.tuhai.com.vn

ÂM DƯƠNG - NGŨ HÀNH CỦA TIẾNG VIỆT

                                    
Âm dương:

Âm, dương là hai loại khí lớn trong vũ đại trụ. Theo học thuyết Âm – dương, khí tĩnh thuộc âm, khí động thuộc dương. Khí âm dương trong vũ trị, tuy thuộc tính của chúng đối nghịch, nhưng chúng luôn bám chặt lấy nhau, hỗ trợ nhau sinh thành. Kiềm chế nhau trong khuôn khổ, giữ cho mối tổng hoà được tồn tại trọn vẹn bền vững.

Các cụ ta xưa cũng chia 6 thanh tiếng Việt làm hai loại: Thanh bằng và thanh trắc.

Thanh bằng

Là âm thanh của tiếng nói êm ái, hiền hoà, mang tính tĩnh. Thuộc tính âm, chúng gồm có hai thanh, đoản bình thanh và trường bình thanh.

Thanh trắc

Là âm thanh của tiếng nói ở những cung bậc cao thấp khác với thanh bằng. Âm thanh phát ra trúc trắc, uốn lượn, cộc cằn, mang tính động cao, thuộc dương tính. Chúng gồm các thanh: Thượng, khứ, hồi, và hạ thanh.

Qui phạm sáng tác thơ văn cổ Việt Nam, cân bằng âm dương trong từ ngữ được coi là khuôn vàng, thước ngọc, gọi là niêm luật. Khi muốn học thơ, văn, trước hết phải học niêm luật. Xin lấy một bài mẫu niêm luật của thể thơ thất ngôn tứ tuyệt làm ví dụ:

Bằng bằng trắc trắc trắc bằng bằng,
Trắc trắc bằng bằng trắc trắc bằng,
Bằng trắc trắc bằng bằng trắc trắc,
Trắc bằng bằng trắc trắc bằng bằng.

Trong ví dụ trên, chúng ta thấy sự đối nghịch bằng, trắc trong từng câu, giữa các cặp câu rất rõ rệt. Nhưng tổng thể các đối nghịch đó đã được tạo dựng thành một bức tranh giai điệu của âm thanh có bố cục chặt chẽ, đẹp đẽ, khó bề làm khác đi được.

Ngũ hành

Ngũ hành là năm loại khí hoá. Chúng là tác nhân biến hoá vạn vật.

Khí hóa ở bốn mùa là: Xuân sinh; Hạ trưởng; trưởng Hạ hoá; Thu thâu; Đông tàng.

Khí hoá thấy rõ nhất ở các loài: Xuân cây (Mộc); Hạ lửa (Hoả); trưởng Hạ đất (Thổ); Thu quặng đá kết tinh (Kim); Đông nước đông lại thành băng (Thuỷ). Năm loài này được dùng làm đại biểu khí hoá của ngũ hành: Mộc, Hoả, Thổ, Kim, Thuỷ.

Khí hoá ở bốn phương là: Phương đông hành Mộc; phương Nam hành Hỏa; trung ương hành Thổ; phương Tây hành Kim; phương Bắc hành Thuỷ.

Khí hoá ở vị trí cao thấp là: Mặt trời trên cao nhất, hành Hoả; loài cây ở dưới mặt trời, nhưng cao hơn mặt đất, hành Mộc; đất ở dưới loài cây, hành Thổ; loài quặng, đá ở dưới đất, hành Kim; nước sinh ra từ dưới các lớp đất, đá, hành Thuỷ.

6 thanh của tiếng Việt, theo tương ứng vị trí của ngũ hành cao thấp khác nhau, phân thành năm hành như sau:

Thượng thanh ở vị trí cao nhất, hành Hoả.

Khứ thanh, vị trí dưới thượng thanh, hành Mộc.

Đoản bình thanh và trường bình thanh, vị trí đều ở dưới khứ thanh, lại ở giữa sáu thanh, hành Thổ.

Hồi thanh, vị trí ở dưới trường bình thanh, hành Kim.

Hạ thanh, vị trí ở dưới hồi thanh, hành Thuỷ.
Theo www.tuhai.com.vn

Cách bào chế: CAO BAN LONG



Mấy năm gần đây, xã hội ngày càng phát triển, đời sống người dân ngày càng có chất lượng hơn, vì vậy việc sử dụng thuốc và dược phẩm dinh dưỡng cũng được người ta lựa chọn, tuỳ theo kinh tế gia đình và trình độ hiểu biết mà sự lựa chọn cũng đa dạng.
Nắm bắt được tình hình đó một số công ty dược phẩm nước ngoài đã tung nhiều sản phẩm vào thị trường nước ta, trong đó có nhiều sản phẩm dược phẩm dinh dưỡng như viên nang lô hội của Mỹ, viên nang và các chế phẩm từ sâm nhập từ Hàn quốc, một số thực phẩm chức năng, dược phẩm vi lượng từ Đông Âu và Trung quốc... giá thành của chúng rất cao so với sản phẩm thuốc ta.
Thiết nghĩ Việt Nam cũng có nguồn dược liệu rất quý, cũng có thể nói là hiếm như: sâm ngọc linh, hoàng liên, ba kích, trầm hương, hải sâm, tắc kè, cá ngựa, nhung hươu, sừng hươu... giá trị thực tế về dinh dưỡng, cũng như về hiệu quả điều trị thực tế trên lâm sàng mang lại hiệu quả rất cao.
Thuốc ta có khác thuốc ngoại nhập xét về mặt công nghệ, quảng cáo, nhưng về giá trị thực tế hoàn toàn không thua kém gì. Nếu chúng ta có nguồn đầu tư đủ lớn để tập trung nghiên cứu sản xuất thì bên cạnh việc bảo tồn nguồn tài nguyên dược liệu quý hiếm, cũng đồng thời nâng cao nhận thức của người dân về nuôi trồng, sử dụng và bảo vệ nguồn dược liệu quý hiếm có nguồn gốc từ tự nhiên, mặt khác còn có thể xuất khẩu ra nước ngoài, làm giàu cho đất nước, xứng với tâm nguyện của các bậc tiền nhân: "thuốc Nam Việt chữa người Nam Việt”.
Trong số dược liệu kể trên, tôi đề cập đến sản phẩm cao ban long, để mọi người hiểu thêm, mong muốn mang lại sức khoẻ cho cộng đồng, và để dần dược phẩm của ta có chổ đứng trong làng dược liệu quốc tế.
Cao ban long có tên khoa học là: collacor nuscervi. được chế bằng cách nấu chiết bằng gạc hươu, nai và cô dần cho đặc thành cao rất công phu. Trong đó thành phần chủ yếu gồm: gelatin, một số axit amin, can xi phot phat, can xi cac bô nat, chất nội tiết kích thích sinh trưởng...
Theo Y Học cổ truyền (YHCT) cao ban long còn có tên là: Bạch long, bạch giao, thực giao, lộc giác giao...có vị ngọt, tính ấm quy các kinh: can, tỳ, thận. Đây là loại thuốc ôn bổ hạ nguyên, bồi bổ dương đạo, sinh tinh tuỷ, cứng gân xương, bổ huyết, chỉ huyết.
Chủ trị các chứng: di tinh người bị hoại huyết, thiếu máu, đầu óc choáng váng, mắt mờ, suy nhược tạng phủ, lao lực, người già suy yếu, lưng gối mỏi đau, băng lậu ở phụ nữ, hiếm muộn con do rối loạn chức năng nội tiết (YHCT cho là xung nhâm bị hư tổn), an thai.
Theo quan sát của người xưa thì hươu, nai là loài thú sống được rất lâu, tinh tuỷ của nó rất sung mãn, vì chúng ăn được nhiều thảo dược quý ở rừng sâu, nên rất tinh nhanh, tai thính, mắt sáng, mũi rất nhạy cảm, chân chạy rất nhanh và dẻo dai, xét về các loài thú ở rừng thì khó có loài nào nhanh bằng.
Sừng hươu - nai cũng có phần đặc biệt hơn các loại sừng thú khác, vì sừng nó đặc chứa nhiều tinh tuỷ hơn, chứ không rỗng như các loại sừng khác, vả lại sự phát triển của nó cũng rất nhanh, vì trong độ hai tháng nó có thể phát triển nặng đến 20kg. Với những đặc tính như vậy nó được coi là loại dược phẩm quý, thích hợp với việc bổ sung tinh tuỷ và khí lực cho con người.
Ứng dụng lâm sàng:
Độc long ẩm
Công thức:
Cao ban long
Cách dùng:
Mỗi ngày dùng 10g chia làm hai lần, bằng cách đun cách thuỷ hoặc cho vào cháo nóng khuấy tan uống ấm.
Công dụng:
Bổ tinh, sinh tuỷ, mạnh gân xương, đau liệt, nhức đầu do thấp nhiệt thuộc chứng dương hư; thiên khô co rút. Đàn ông di tinh đái đục; phụ nữ khí hư bạch đới, huyết khô tinh bế, nhiệt quá sinh động thai, sau khi sinh mất máu, sinh háo khát ra nhiều mồ hôi, mất tân dịch; quả là phương thuốc hay!
Nhị long ẩm
Công thức:
Long nhãn 40g
Cao ban long 40g
Cách dùng:
Cho long nhãn vào nồi, đun kỹ nhỏ lửa với 500ml nước, cho đến khi nước keo đặc lọc bỏ bã cho cao ban long vào khuấy tan. Ngày uống hai lần, mỗi lần 1-2 thìa cà phê trước bữa ăn.
Công dụng:
Chữa các chứng mất ngủ, đổ mồ hôi trộm, sốt về chiều, háo khát đại tiện táo bón, miệng lở mắt vàng kém ăn.

Hữu quy hoàn (Cảnh nhạc toàn thư).

Thục địa 100g
Câu kỷ tử 50g
Chế phụ tử
50g
Sơn dược 50g
Thỏ ty tử 50g
Nhục quế
50g
Sơn thù 50g
Đỗ trọng 50g
(đều 20g)
Cao ban long 50g
Đương quy 20g
Cách dùng:
Thảo mộc rửa sạch, sấy khô tán mịn, thục địa cùng mật ong và cao làm thành dung dịch, trộn với thuốc bột làm hoàn, mỗi hoàn 10g mỗi ngày uống hai lần, vào buổi sáng và buổi tối mỗi lần uống hai hoàn.
Chủ trị:
Thận dương hư suy, mệnh môn hoả suy, hư lao, sợ lạnh, tay chân lạnh, dương nuy, di hoạt tinh hiếm muộn, phân nát, đái són, đau lưng mỏi gối (theo một số tài liệu, y học Trung quốc đã áp dụng, phối hợp điều trị chứng tiểu đường tuýp 2)

Bổ tỳ thận hoàn
Công thức:
Chánh bạch truật (sao cám) 20g
Bổ cốt chỉ(sao muối) 20g
ích trí nhân (sao bỏ vỏ) 20g
Quy đầu (sao rượu) 20g
Nhục đậu khấu 10g
Ngưu tất bắc 20g
Hoài sơn (sao hoàng thổ) 20g
Phục thần 30g
Cao ban long 50g
Cách dùng: l
Làm hoàn mỗi ngày uống hai lần, mỗi lần uống 10g vào lúc đói buổi sáng và buổi tối, chiêu với nước muối loãng.
Chủ trị :
Đi đái đêm nhiều lần, phân lỏng hay đau bụng, người già suy nhược, lưng gối mỏi đau, ăn kém chậm tiêu.
Cốm thuốc bổ tỳ chống còi xương.
Công thức:
Nhân sâm 8g
Bạch truật 10g
Bạch biển đậu 10g
Chích hoàng kỳ 12g
Phục linh 12g
Cam thảo 5g
Bổ cốt chỉ 10g
Lộc giác sương 20g
Cao ban long 50g
Cách dùng :
Mỗi lần dùng 5g, ngày ba lần trước bữa ăn.
Công dụng :
Trẻ em còi xương chậm lớn, chân tay yêu mềm, đi lại khó khăn, đi ngoài phân sống.
Rượu bổ thận tráng dương
Công thức:
Ba kích 20g
Nhị hồng sâm 20g
Bổ cốt chỉ 8g
Ích trí nhân 8g
Nhục thung dung 15g
Tục đoạn 20g
Kỷ tử 20g
Đương quy 15g
Cao ban long 100g
Đường phèn 30g
Cách dùng :
Cho bốn lít rượu ngon ngâm 30 ngày, uống 15ml trước khi đi ngủ, hoặc pha loãng với nước lọc uống.
Công dụng:
Thận dương suy yếu dẫn đến liệt dương, phòng dục quá độ, các chứng di mộng, hoạt tinh, đau lưng, đau gối, an thần, kích thích tiêu hoá.



Theo www.tuhai.com.vn

CAO BAN LONG (ĐỘC LONG ẨM)

CAO BAN LONG (ĐỘC LONG ẨM)

Dùng nước đun cách thuỷ, hoặc cho vào sữa nóng, cháo nóng khuấy tan, hoặc ngậm tan nuốt dần, uống khi còn âm ấm.

Chủ trị các chứng:
Tinh huyết suy kém, gân xương đau dật, làm đỏ da thắm thịt đẹp nhan sắc, cường dương, chủng tử, giải khí nắng giải khát. Chữa nhức đầu do thấp nhiệt, trừ giã nhiệt thuộc dương hư, phát sốt do âm hư, thiên khô co rút. Đàn ông di tinh, đái đục, phụ nữ bạch   dâm, bạch đái. Huyết khô kinh bế. Có thai nhiệt quá tổn thương đến thai. Sau khi đẻ mất nhiều máu sinh khát, tự ra mồ hôi, ra mồ hôi trộm. Hết thảy các chứng về khí hư, các chứng về huyết. Thật là phương thuốc hay về tư âm giáng hoả, tiêu ung nhọt khỏi phù thũng.

Xét:

Sách nói: "Hươu là giống thú ở núi mà bổ dương; Nai là giống thú ở đầm mà bổ âm", dùng nhung thì công hiệu bổ mạnh mà nhanh chóng. Dùng cao thì công hiệu tư bổ chậm. Nhưng cao lấy số nhiều càng dồn đúc lại thì kém gì sức của nhung.

Trên lâm sàng, có khi dùng một vị cao Ban long, hoặc hợp dùng với các vị khác, để làm thuốc điều tinh bổ tủy. Cứng xương mạnh gân, thực là dược phẩm hữu tình của tinh huyết, không phải loại thảo mộc có thể so sánh được. Cho nên có thể bổ ích chứng hư tổn, khởi tử hồi sinh, lập công trong giây phút. Quý báu thay phương thuốc để phòng bệnh và giữ mình.


Theo www.tuhai.com.vn

PHÉP DƯỠNG SINH TRONG ĂN UỐNG

                               
Doãn Chân Nhân nói: Người ta có ba thứ dục: Ham ăn, ham ngủ và ham sắc dục. Trong ba thứ này, ăn uống là căn bản.

Người biết dưỡng sinh, thì uống trước khi khát, nhưng không uống quá nhiều. Nên ăn ít mà ăn nhiều lần, không nên ham ăn nhiều mà khó chịu. Thường nên để trong cái no có một chút đói , chớ không nên để trong cái đói có một chút no. Ăn uống nên dùng thức ấm ( Tỳ, Vị ưa ấm, đừng để cho lạnh hay nóng phạm vào ). Nên ăn cơm nhiều hơn thịt, không nên ăn thịt nhiều hơn cơm. Thà để đêm đói còn hơn ăn no sinh thương tổn. Sáng bụng đói chớ uống chè đặc; nên để uống rượu sau bữa ăn. Đói quá chớ nên ăn thật no, khát lắm chớ uống quá nhiều. Sau cơn giận không nên ăn ngay, sau bữa ăn chớ nên nổi giận. Rất nên cẩn thận để chân khí điều hoà.

Xưa có câu: ăn nhiều thường sinh năm trở ngại: một là đại tiện luôn, hai là tiểu tiện luôn, ba là ngăn trở giấc ngủ, bốn là không tu luyện được, năm là khó tiêu hoá. Cần nên răn ngừa để trung khí điều hoà.

Ứng Cừ nói rằng: xưa có vị đạo nhân , khi đi đường thấy ba cụ già đều ngoài trăm tuổi đang làm cỏ lúa với nhau. Vị đạo nhân đến hỏi ba cụ: tại sao các cụ lại thọ như vậy ? cụ thứ nhất nói: vợ tôi ở nhà xấu xí lắm; cụ thứ hai nói: tôi liệu chừng theo bụng tôi mà ăn vừa thôi; cụ thứ ba nói: tôi không bao giờ chùm kín đầu khi ngủ. Lời nói của ba cụ già trọng yếu thay! nhờ đó mà được trường thọ.

Thiên dưỡng sinh đại yếu có câu rằng: người khéo dưỡng sinh bồi dưỡng ở trong, người không khéo dưỡng sinh thì bồi dưỡng ở ngoài. Ở ngoài tham tình dục khoái lạc, chuộng ngoài thì thương tổn trong. Còn như bồi dưỡng ở trong thì làm ngũ tạng yên hoà, tam tiêu không rối loạn, ăn uống vừa phải, không can thiệp đến việc lôi thôi, thì có thể sống lâu.

Trịnh Vân Hải
( Trích từ sách HẢI THƯỢNG Y TÔNG TÂM LĨNH )


Theo www.tuhai.com.vn

Thực hành thí nghiệm hóa dược